(Chính trị) - Trong những ngày cuối cùng của Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV, câu chuyện về Dự Luật An ninh mạng yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông xuyên biên giới phải “địa phương hóa dữ liệu” đã trở thành chủ đề nóng nhận được nhiều sự quan tâm, thảo luận. 

Không chỉ Google và Facebook

Dự thảo Luật An ninh mạng tại Khoản 4, Điều 34 quy định: “Các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, internet tại Việt Nam phải… đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam”. Nội dung này là sự phát triển từ điều 34 trong một nghị định của Chính phủ cũng về an ninh mạng ban hành năm 2013. Trong dự thảo của luật, không chỉ các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội mà tất cả các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội cũng như các dịch vụ viễn thông, internet… của nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ quy định này.

Thế nhưng các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và một số báo mạng khác chỉ nhăm nhăm nói đến Google và Facebook là hai trang mạng xã hội được nhiều người sử dụng ở Việt Nam. Họ cố tình quên rằng Việt Nam còn có các trang mạng tìm kiếm khác như Yahoo, Cốc Cốc (nội địa), Amazon, Viber, Zalo… và nhiều trang mạng chuyên đề như Wikipedia, Wikileak, Youtube .v.v… Thâm ý của tác giả những bài báo kiểu này đánh vào sự lo lắng của người tiêu dùng đang sử dụng những dịch vụ phổ biến là Google và Facebook để yểm trợ cho ý đồ nào đó chăng?. Thậm chí, họ còn đưa ra những nhận định “táo bạo” là Google và Facebook sẽ rút khỏi Việt Nam một khi bị yêu cầu phải đặt máy chủ quản lý người sử dụng tại Việt Nam.

Trong số các trang mạng được các đại biểu đề cập đến, trang mạng hình ảnh Youtube hầu như bị “bỏ quên”. Song, theo thông tin thống kê, chính Facebook và Youtube lại là hai trang mạng tán phát nhiều tin, bài, clip bịa đặt, dựng chuyện nhất. Vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là các tờ báo đang “khóc mướn” cho các doanh nghiệp ngoại không tôn trọng pháp luật Việt Nam đang đứng trên quan điểm nào? Họ bảo vệ quyền lợi cho ai?

Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay go trong việc bảo đảm an ninh mạng, bảo đảm an toàn thông tin của mình mà nếu thiếu một hành lang pháp lý chặt chẽ và đủ mạnh, các cơ quan chức năng sẽ thiếu những vũ khí để bảo vệ xã hội, để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay go trong việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin. Nếu thiếu một hành lang pháp lý chặt chẽ và đủ mạnh, các cơ quan chức năng sẽ thiếu những vũ khí để bảo vệ xã hội, để bảo về chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Không lo việc nhà, nhưng sốt sắng việc người ngoài 

Những người reo rắc những đồn đoán rằng Google và Facebook sẽ rút khỏi Việt Nam và sẽ gây tổn hại lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Họ quả là rất biết cách khai thác đề tài, đã nghĩ ra cả những thứ mà ngay cả nhưng người chủ của Google hay Facebook có lẽ cũng chưa nghĩ đến. Quả là những kẻ “bảo hoàng hơn vua”.

Trong nhiều tranh luận không chỉ ở Hội trường Diên Hồng mà còn trên các comment ở các bài báo về chủ đề này, nhiều độc giả tỏ ý ngạc nhiên bởi những kẻ “cầm đèn chạy trước ô tô” còn lo lắng cho Google và Facebook hơn cả lo cho chính bản thân mình. Họ phịa ra những chuyện không thể tưởng tượng được như việc “bỗng dưng, một buổi sang ngủ dậy, Google và Facebook biến mất”.

Những người này còn đăng hẳn những thông tin quảng cáo, giới thiệu cơ sở hạ tầng Cloud Campus của “gã khổng lồ Google” đặt tại Council Bluffs (Mỹ) cũng như cơ sở hạ tầng của Facebook đặt tại Prineville, bang Oregon (Mỹ). Tất nhiên quy mô công nghệ viễn thông tin học phục vụ dân sinh của một số nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ không thể bằng Mỹ. Nhưng ít nhất Nga cũng có trình tìm kiếm, lướt web Yandeck sử dụng được bằng cả chữ cái Kiril (tiếng Nga viết bằng chữ cái Kiril) và chữ cái Latin. Còn Trung Quốc cũng có trang tìm kiếm Weibo sử dụng được bằng chữ Hán (cả phồn thể và giản thể) và chữ cái Latin. Về mạng GPS, cả Nga lẫn Trung Quốc và EU cũng không kém cạnh Mỹ. Nga có hệ thống định vị toàn cầu GLONASS được kết nối với YANDECK, còn Trung Quốc thì có hệ thống BAIDU kết nói với WEIBO.

Trong khi cái mà người Việt Nam đang thiếu chính là phát triển một chương trình tìm kiếm, lướt web riêng của người Việt dạng như Cốc Cốc thì không hề thấy các tác giả những bài báo kể trên hay mấy đại biểu Quốc hội đăng đàn đề cập đến. Vì sao họ lãi ém thông tin này?

Mọi người đều nhớ đến việc Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức điều tra hình sự đã được soạn thảo và được Quốc hội khóa XIII bấm nút thông qua một cách thiếu trách nhiệm thế nào. Trong đó, các tội đặc biệt nghiêm trọng như tội Hiếp dâm trẻ em, tội Tham ô, tội Phản bội… lại được thoát án tử. Để rồi đến sát trước ngày có hiệu lực chưa đầy một tuần, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV đã phải xin ý kiến khẩn cấp các đoàn đại biểu Quốc hội rồi khẩn cấp ra một nghị quyết lùi thời hạn thi hành để chỉnh sửa. Thế lực nào đã tạo ra những sai lầm ấy ?

Vì sao các giải pháp phần mềm tìm kiếm nội địa chết yểu ?

Việt Nam không thiếu nhân tài tròng lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, tin học. Ngay từ những buổi sơ khai ban đầu của nền công nghệ thông tin – tin học của Việt Nam với các máy tính gắn chip 80286 cổ lỗ, ổ cứng chỉ 40MB, RAM chỉ vỏn vẹn 640KB, với máy in 9 kim EPSON kẽo kẹt cót két, với hệ điều hành MS-DOS 3.0 – 3.5, với các ngôn ngữ “cổ điển” là BASIC, PASCAL, FOXPRO… người Việt Nam đã có thể dùng máy tính để thực hiện các thao tác văn phòng với phần mềm BKED, có thể diệt virus máy tính với phần mềm BKAV, đã có thể viết các phần mềm nội địa dùng để quản lý trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội và quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, có ba nguyên nhân làm cho công nghệ phần mềm Việt Nam chậm phát triển. Thứ nhất là sự quan tâm của lãnh đạo và người dân không đúng mức. Thứ hai là nạn ăn cắp bản quyền. Trò “bẻ khóa” (crack) hệ điều hành trở nên phổ biến cũng như tâm lý thích “ăn sẵn” đã bóp chết sự sáng tạo của nền công nghệ tin học Việt Nam. Thứ ba là tâm lý sinh ngoại, sùng ngoại. Điều này không chỉ có ở lĩnh vực công nghệ thông tin, tin học mà còn có ở nhiều lĩnh vực khác.

Giải pháp về một phần mềm tìm kiếm nội không phải bây giờ mới được nêu ra. Trong suốt những năm đầu thế kỷ XXI, nó được nhắc đến trong không ít các hội nghị về công nghệ thông tin – tin học, về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, trong việc thiết lập chính phủ điện tử và cải cách hành chính. Nhưng nhắc đến thì cũng chỉ để đó. Tâm lý “ăn sẵn”, tâm lý sùng ngoại đã ăn sâu bám rễ vào đầu óc của nhiều người để rồi đến hôm nay, chúng ta phải cay đắng nhìn lại mà thấy rằng chúng ta đang bị nô dịch hóa ngay trên lĩnh vực tối quan trọng này.

Thế kỷ XXI là thể kỷ của các cuộc chiến tranh tổng lực phi quân sự. Trong đó có chiến tranh thông tin. Kẻ nào nắm nguồn lực thông tin, kẻ đó có ưu thế, có điều kiện để chi phối các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và cả chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà trong một năm qua, Mỹ và phương Tây nhiều lần buộc tội Nga can thiệp vào kết quả bầu cử ở Mỹ và một số nước. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc, với dân số lớn nhất thế giới đã từ chối Google và Facebook, đã cấm Wkipedia hoạt động tại Trung Quốc.

Cuộc xâm lăng về chính trị, kinh tế và văn hóa trên mặt trận thông tin truyền thông

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc tiếp cận với công nghệ thông tin truyền thông hiện đại mà Internet là nền tảng. Trong 20 năm qua, kể từ ngày 19-11-1997, khi Tiến sĩ Mai Liêm Trực, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu chính viễn thông Việt Nam bấm nút kết nối hệ thống mạng của Việt Nam với hệ thống Internet toàn cầu, hạ tầng công nghệ thông tin cũng như các dịch vụ mạng ở Việt Nam đã phát triển với tốc độ rất cao, đem lại nhiều tiện ích cho đời sống của người dân cũng như việc quản lý xã hội của Nhà nước, đóng góp đáng kể vào tốc đô tăng trưởng kinh tế hang năm của Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam thoát khỏi vị trí nước kém phát triển để vươn lên tầm các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, sự vật, hiện tượng nào cũng có mặt trái của nó. Cũng vào thời điểm mà Việt Nam kết nối mạng Internet toàn cầu, các tổ chức khủng bố quốc tế đã lợi dụng mạng Internet để tập hợp lực lượng, trao đổi các thông tin và ra mệnh lệnh về tổ chức các vụ đánh bom khủng bố đẫm máu ở nhiều nơi trên thế giới mà đỉnh điểm là vụ khủng bố tòa tháp đôi WTC tại New York ngày 11-9-2001. Mỹ và các nước phương Tây buộc phải thắt chặt các hàng rào kiểm soát không gian mạng và hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết trong lĩnh vực an ninh mạng nhằm tự bảo vệ chính mình.

Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. 4 năm sau khi Việt Nam kết nối hệ thống mạng nội địa của mình với hệ thống Internet toàn cầu, vào tháng 3 năm 2001, các thế lực phản động lưu vong ở Mỹ do K’sor Kork cầm đầu được CIA giúp sức đã móc nối với các nhóm tàn quân FULRO cũ ở Tây Nguyên thông qua liên lạc Internet và tạo nên vụ bạo loạn đòi thành lập cái gọi là “Nhà nước Degar tự trị”. Vụ bạo loạn đã bị đập tan nhưng đã gây bất ổn nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, tổn hại vật chất là đặc biệt nghiêm trọng. Năm 2004, một lần nữa các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài lại sử dụng Internet để phát đi nhưng thông tin xuyên tạc, bóp méo sự thật, hô hào người dân Tây Nguyên chống chính quyền, kêu gọi họ bỏ chạy sang Campuchia hòng tạo nên một vụ “nạn nhân của cộng sản Việt Nam”, tiếp tục gây bất ổn cho an ninh quốc gia của Việt Nam.

Theo thống kê từ cơ quan An ninh mạng, chỉ trong vòng 5 năm kể từ năm 2012 đến nay, trung bình mỗi tháng có hàng trăm tin, bài, clip tung lên mạng internet những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo sự thật, bôi nhọ cá nhân và tổ chức, thậm chí là ra mặt chống đối chính quyền, mượn danh yêu nước để phá hoại quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mượn danh chống tham nhũng để đòi lật đổ chế độ chính trị hiện hành.

Những tin, bài, clip này chủ yếu được tán phát trên hai trang mạng Facebook và Youtube, hai trang mạng được nhiều người Việt Nam (cả ở trong và ngoài nước) sử dụng. Tuy nhiên, khi Cơ quan An ninh Việt Nam yêu cầu các nhà mạng cung cấp thông tin về địa chỉ những “khách hàng bất hảo này” thì họ từ chối. Vì máy chủ của các trang này đặt ở nước ngoài (cụ thể là ở Mỹ) nên Cơ quan An ninh điều tra Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi đối phó.

Tình trạng rao bán tiền giả diễn ra công khai trên mạng xã hội.

Tình trạng rao bán tiền giả diễn ra công khai trên mạng xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế, tài chính, tiền tệ, việc kết nối mạng Internet đã tạo ra nhiều lỗ hổng trong quản lý tài chính tiền tệ. Nhiều đối tượng ở cả trong và ngoài nước đã rao bán tiền VND giả trên các trang mạng xã hội, đã sử dụng việc buôn bán, trao đổi thông tin thương mại trên mạng để trốn thuế và che giấu nhiều hành vi phạm pháp khác. Tiến trình phá nhiều vụ án rửa tiền ở nước ngoài, buôn bán chất ma túy, buôn lậu, đánh bạc xuyên quốc gia… rơi vào bế tắc vì các nhà cung cấp dịch vụ mạng từ chối hợp tác với Cơ quan Cảnh sát điều tra của Việt Nam, ngay cả khi có “trát” của Interpol.

Trong lĩnh vực văn hóa, các thông tin xấu độc vẫn hàng ngày lan tràn trên các tuyến thông tin, những trang web khiêu dâm, kích động bạo lực, tuyên truyền cho lối sống sa đọa… vẫn chưa bị ngăn chặn triệt để đã làm băng hoại đời sống của một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là làm tha hóa lớp trẻ, những người chỉ trên dưới 30 tuổi mà theo Tổ chức dân số thế giới, là lớp người có khả năng lao động lớn nhất, đóng góp nhiều nhất cho xã hội.

Ngay tại lĩnh vực an toàn thông tin, trong 5 năm gần đây cũng xuất hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng. Trung bình hàng tháng có vài chục vụ tấn công của tin tặc từ nước ngoài vào các hệ thống truyền thông, vào các trung tâm dữ liệu của các ngân hàng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức tư nhân, các trang báo mạng, thông tin mạng.

Tháng cao điểm nhất có từ vài trăm đến hàng nghìn vụ lớn nhỏ. Những cuộc tấn công ấy nhằm đánh cắp thông tin, dữ liệu, hoặc phá hoại sự hoạt động bình thường của hệ thống, hoặc với cả hai mục đích. Nếu như những cuộc tấn công mạng trên diện rộng có thể dễ dàng bị kiểm soát và vô hiệu hóa bởi những quy định chia sẻ thông tin chống mã độc của các tập đoàn truyền thông lớn trên thế giới thì những cuộc tấn công kiểu “sói đơn độc” nhằm vào một khu vực hẹp, thậm chí chỉ vào một hệ thống máy chủ ở trong nước khó kiểm soát và khống chế hơn nhiều.

Những biểu hiện trên đây thực sự là một cuộc xâm lăng phi truyền thống cả về chính trị, kinh tế và văn hóa thông qua môi trường Internet. Có thể nói, Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay go trong việc bảo đảm an ninh mạng, bảo đảm an toàn thông tin của mình mà nếu thiếu một hành lang pháp lý chặt chẽ và đủ mạnh, các cơ quan chức năng sẽ thiếu những vũ khí để bảo vệ xã hội, để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Điều đáng ngạc nhiên là trong các bài phát biểu của một số đại biểu Quốc hội và những bài đưa tin, bình luận trên một số tờ báo, người ta hầu như lờ đi những vấn đề chiến lược, vĩ mô của Luật An ninh mạng mà sa đà vào việc tranh cãi những chuyện vụn vặt. Thậm chí là cả những chuyện theo cảm tính cá nhân mà suy diễn ra.

Ý thức về chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết của dân tộc của các vị ở đâu hỡi mấy ông nghị, bà nghị lo ngại cho Google và Facebook hơn là lo cho an ninh nước nhà ?

Trong bài phát biểu nhân Kỷ niệm 20 năm Internet Day Vietnam (Ngày Internet Việt Nam 19-11-1997), Bộ trưởng Bộ Thông tin truyền thông Trương Minh Tuấn đã chỉ rõ, bên cạnh những giá trị làm thay đổi sâu sắc, tích cực đời sống kinh tế – xã hội và cuộc sống của người dân Việt Nam, Internet cũng đang tồn tại nhiều bất cập. Đó là lượng thông tin xấu độc xuất hiện trên Internet và mạng xã hội ngày càng nhiều, nhất là tin giả, tin xuyên tạc, bịa đặt, thông tin chống phá chế độ, bôi nhọ lãnh đạo. Ngoài ra, các vấn nạn như tấn công mạng, mất an toàn thông tin, thư rác, mã độc tống tiền đang nhằm vào các mục tiêu là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tại Việt Nam hiện đang gia tăng cả về số lượng, quy mô và độ phức tạp. Việc thông tin thuộc diện bí mật Nhà nước bị lộ lọt, bị đánh cắp cũng không còn là hiện tượng hiếm.

Từ năm 2011, Google đã thuê đặt thêm 8 máy chủ tại các Trung tâm Dữ liệu của Viettel tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 2011, Google đã thuê đặt thêm 8 máy chủ tại các Trung tâm Dữ liệu của Viettel tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ bất cập mà Bộ trưởng Trương Minh Tuấn dùng ở đây là để nói cho nhẹ đi, chứ thực chất là chủ quyền về thông tin, truyền thông của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng. Cũng giống như vấn đề an ninh quốc gia, nếu chúng ta không kịp thời có những biện pháp, những hành lang pháp luật hữu hiệu, những cơ sở hạ tầng để đối phó thì một lần nữa, chúng ta sẽ lại rơi vào trạng thái nô lệ về thông tin và truyền thông. Việc chủ quyền về thông tin và truyền thông bị xâm hại sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng khác. Việc mất an ninh thông tin truyền thông sẽ dẫn đến những tổn hại rất nghiêm trọng đối với an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa và nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, vấn đề an ninh mạng đã và đang trở thành một vấn đề thuộc an ninh quốc gia chứ không còn là vấn đề an ninh phi truyền thống như nhận thức cũ nữa.

Và vì vậy, tôi không khỏi ngạc nhiên về một nữ đại biểu của Đà Nẵng để biện hộ cho việc không nên yêu cầu nhà cung cấp đặt máy chủ ở Việt Nam đã viện dẫn nội dung Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được Việt Nam ký kết vào tháng 2-2016, tại Khoản 2 Điều 14, Mục 13 về thương mại điện tử quy định về địa điểm của hạ tầng công nghệ thông tin như sau: “Không cho phép bên nào yêu cầu đối tượng được sử dụng hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi lãnh thổ của bên mình để xem đó như là điều kiện kinh doanh trong lãnh thổ đó”.

Có lẽ nữ đại biểu này cần phải nhớ lại rằng TPP đã đổ vỡ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trum ký ban hành dự luật rút nước Mỹ khỏi Hiệp định này. Và thêm nữa, tại APEC-2017 vừa qua tổ chức ngay tại Đà Nẵng (nơi nữ đại biểu này ứng cử và trúng cử), Việt Nam và Nhật Bản cùng một số nước thành viên còn lại của TPP đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về việc sẽ soạn thảo một Hiệp định thương mại mới (CP-TPP). Vì thế, việc viện dẫn Khoản 2 Điều 14, Mục 13 Hiệp định TPP của nữ đại biểu này là vô giá trị.

Một đại biểu khác đến từ thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Việt Dũng và người cùng đoàn là ông Huỳnh Thành Đạt đồng thanh cho rằng: “Nếu diễn giải bao trùm hết cả Facebook, Google, Amazon cũng phải theo điều này thì không ổn. Facebook là dịch vụ toàn cầu hoá, kinh doanh ở 200 nước chẳng lẽ phải đặt máy chủ ở cả 200 nước hay sao, chi phí rất lớn ?. Chuyện quản lý tập trung là điều tất yếu để tiết kiệm chi phí. Nếu chúng ta quy định như vậy là không khả thi, trừ khi thị trường của chúng ta lớn như Trung Quốc…”. Tôi cho rằng các vị đang “lo bò trắng răng”, thực tế những tập đoàn truyền thông lớn của Việt Nam như VNPT, FPT, VIETTEL… thì hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông của Việt Nam hiện nay đủ sức để cho nước ngoài thuê máy chủ. Vấn đề đối với các nhà tư bản là lợi nhuận chứ không phải là khoa trương hình thức. Đối với những nước yêu cầu các nhà mạng nước ngoài đặt máy chủ tại nước họ, nếu nước sở tại đủ điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông, họ sẽ thuê máy chủ của nước sở tại chứ không dại gì bê máy của họ từ Mỹ sang.

“Siêu” hơn nữa, đại biểu Huỳnh Thành Đạt, Giám đốc Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh còn đưa ra diễn giải: “Các máy chủ tỏa nhiệt rất lớn nên phải đặt ở vị trí có nhiệt độ ôn hòa, tức là không đặt ở xứ nhiệt đới mà đặt ở nơi có khí hậu ôn đới, hàn đới” ?!. Nói như ông Đạt thì có lẽ các máy chủ đặt ở những nước nhiệt đới như Singapore, Malaysia, Brasil và cả mấy bang “nóng bức” của miền Nam nước Mỹ như Taxas, Arizona, Oklahoma, Florida sẽ “chết” sạch.

Còn riêng đối với ý kiến của ông Trương Trọng Nghĩa, cũng là đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh cũng phải coi lại: “Luật phải tạo ra không gian để cho mọi người bơi, người ta bay. Phải để người ta biết được bay đến đâu”. Cho dù Facebook có thu lợi ở Việt Nam 150 triệu USD/năm (chiếm 43% tổng thu của thị trường quảng cáo trên mạng ở Việt Nam) và Google có thu lợi ở Việt Nam khoảng 100 triệu USD/năm (chiếm 30% tổng thu của thị trường quảng cáo trên mạng ở Việt Nam) thì việc yêu cầu Google, Facebook và một số trang mạng khác phải mở văn phòng đại diện và đặt máy chủ ở Việt Nam không đơn giản chỉ là để thu thuế như ông Nguyễn Lân Hiếu (Đại biểu An Giang) nói mà cao hơn tất cả là AN NINH QUỐC GIA, là CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG.

(Theo FB Tâm Minh Nguyễn)

Khi Đại biểu Quốc hội mù mờ về luật !

Khi Đại biểu Quốc hội mù mờ về luật !

Chưa cần đến các nhà cung cấp dịch vụ Internet như Facebook, Google lên tiếng, Dự Luật An ninh mạng đã bị khoác lên mình bộ mặt "con ngáo ộp" khi một số ĐBQH có cách nhìn chưa thấu đáo đã vội đá thẳng rằng...
Xin đừng khóc thuê cho Facebook, Google

Xin đừng khóc thuê cho Facebook, Google

Đất nước này kể ra cũng lạ, có những điều được đưa ra để bảo vệ cho lợi ích của quốc gia, của dân tộc và của bản thân mỗi người dân chính quốc gia ấy thế nhưng lại vấp phải sự phản đối của...
An ninh mạng là “lá chắn” sống còn đối với các quốc gia

An ninh mạng là “lá chắn” sống còn đối với các quốc gia

Quy định càng cụ thể thì chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia và lợi ích của tổ chức, cá nhân sẽ càng được bảo đảm. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay,...
“Thị trường các bạn đang bị xâm chiếm, phải bảo vệ chứ?”

“Thị trường các bạn đang bị xâm chiếm, phải bảo vệ chứ?”

Mới đây, trong phiên họp quốc hội bàn thảo về dự luật An ninh mạng, Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) khẳng định chắc nịch, “không nên có thêm một lớp khóa nữa cho quốc gia...
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên