(Cư dân mạng) - Trong báo cáo “Chỉ số tự do kinh tế 2018”, Việt Nam được xếp hạng 141/180 với 53,1 điểm, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của khu vực và thế giới.

Kinh tế Việt Nam dù được đánh giá là năng động nhưng còn rất nhiều vấn đề

Kinh tế Việt Nam dù được đánh giá là năng động nhưng còn rất nhiều vấn đề

Điều đáng quan ngại là trong 43 nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hạng 35, thua Lào (53,6 điểm, hạng 34), Myanmar (53,9 điểm, hạng 33) và Campuchia (58,7, điểm hạng 22).

Năm 2008, Tổ chức The Heritage Foundation và Tạp chí The Wall Street Journal đưa ra định nghĩa về “tự do kinh tế” trong Chỉ số tự do kinh tế như sau: “Tự do kinh tế, trong hình thái cao nhất, cho người dân quyền tư hữu tuyệt đối, thực hiện đầy đủ các quyền tự do lưu thông về nhân công, tiền vốn, hàng hóa, và hoàn toàn không có sự chèn ép hay giới hạn tự do kinh tế ngoại trừ những giới hạn tối thiểu cần thiết để họ bảo vệ và duy trì sự tự do đó.”

Việt Nam xếp hạng 141/180 nước được khảo sát về mức độ tư do của nền kinh tế

Nhìn chung, các nền kinh tế được xếp hạng cao về mức độ tự do thì thường thịnh vượng, tiêu biểu như Hong Kong, Singapore, New Zealand, Thụy Sĩ, Úc, Ireland, Estonia, Anh, Canada và Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), … Trong khi những quốc gia đóng kín như Bắc Triều Tiên, Venezuela, Cuba, Congo, Eritrea, Guinea Xích đạo, Zimbabwe, Bolivia, Algeria và Djibouti, … hầu hết lại nghèo nàn, lạc hậu, mặc dù có không ít tài nguyên hay các điều kiện thuận lợi. Sự chuyển đổi thành công của Việt Nam từ bao cấp sang cơ chế thị trường và chủ động mở cửa, hội nhập với thế giới chính là một ví dụ điển hình về những lợi ích do tự do kinh tế mang lại.

Những vùng lãnh thổ nhỏ bé như Hongkong và Singapore, dù đất chật người đông lại hầu như chẳng có tài nguyên gì đáng kể (thậm chí Singapore còn phải nhập khẩu cả nước ngọt), song cực kỳ thịnh vượng và liên tục giữ danh hiệu nền kinh tế tự do nhất, nhì thế giới suốt nhiều năm liền, nhờ xây dựng được chính quyền liêm khiết, hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích phát triển tự do kinh doanh và lưu thông tiền tệ, bên cạnh tôn trọng quyền tư hữu của người dân. Chính quyền ở những nơi này cũng đang không ngừng nỗ lực để trở nên ngày càng minh bạch, không khoan nhượng với tham nhũng, để chính sách mở cửa thương mại có thể tạo ra môi trường kinh doanh năng động.

Hongkong là nền kinh tế tự do nhất thế giới 24 năm liền. Chính phủ nơi đây rất ít can thiệp vào các hoạt động kinh tế.

Hiện nay, Việt Nam đã có quy mô xuất nhập khẩu vượt 410 tỷ USD – gần bằng 200% GDP, nằm trong nhóm 25 nước trao đổi thương mại lớn nhất thế giới, và chỉ đứng sau Singapore tại khu vực Đông Nam Á. Như vậy, không thể nói chúng ta là một nền kinh tế đóng, thậm chí có phần còn “mở” hơn nhiều nước khác trên thế giới. Nhưng tại sao theo những tiêu chí của Chỉ số Tự do kinh tế, Việt Nam lại bị xếp dưới cả những nền kinh tế vốn nghèo hơn chúng ta và cũng không có nhiều tiềm năng phát triển bằng, đó là Lào, Campuchia hay Miễn Điện – đất nước chỉ vừa mới thoát khỏi sự thống trị của chế độ quân phiệt hà khắc?

Có nhiều nguyên nhân để lý giải cho sự thua kém này. Dù không thể phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ trong thời gian qua nhằm cải cách chính sách thuế, tăng cường sự liêm chính và gia tăng hiệu quả của hệ thống pháp luật, tuy nhiên bộ máy công quyền ở Việt Nam vẫn quá cồng kềnh, quan liêu, khiến môi trường kinh doanh không được thông thoáng như kỳ vọng. Bên cạnh đó, chúng ta được đánh giá rất thấp về các chỉ số tự do thương mại, quyền tư hữu và tự do lao động.

So với Việt Nam, môi trường kinh doanh và thủ tục pháp lý tại Campuchia, Lào hay Miễn Điện, … lại tỏ ra thông thoáng hơn nhiều và các doanh nghiệp hoạt động tại đây cũng ít gặp khó dễ vì thủ tục hành chính bằng. Cụ thể, Việt Nam đang là quốc gia có chi phí thời gian chờ và nộp thuế cao nhất tại khu vực Đông Nam Á; Báo cáo của World Bank cho thấy: trong nhiều năm liền, số giờ trung bình cho một doanh nghiệp nộp hồ sơ thuế và đóng được thuế là 872 giờ, gấp 10 lần so với Singapore; 2,5 lần Lào và hơn 5 lần so với Campuchia.

Một vấn đề nữa đó là Việt Nam chỉ đang cố gắng thu hút và giải ngân thật nhiều vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào những lĩnh vực giá trị thấp, nhằm khai thác nguồn lao động giá rẻ và tài nguyên, nguyên liệu sẵn có, mà không chú trọng tới chất lượng tăng trưởng để hiệu quả của khu vực FDI lan rộng ra cả nền kinh tế.

Chính phủ vừa tổ chức sự kiện nhân dịp Việt Nam cán mốc 400 tỷ USD xuất nhập khẩu

Việt Nam vẫn chưa quyết tâm cải cách và thoái hết vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước

Do đó, còn rất nhiều việc mà chúng cần phải làm để cải thiện tình trạng như hiện nay và để thúc đẩy tự do kinh tế. Một số đề xuất bao gồm: Việt Nam cần đẩy mạnh quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, giảm quan liêu, gia tăng tính minh bạch trong khu vực kinh doanh và tài chính, giảm các khoản cho vay không hiệu quả của ngành ngân hàng, đẩy mạnh tự do hóa thương mại và tăng cường sự công nhận quyền sở hữu tư nhân, … Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần nâng cao hiệu quả hoạt động thể chế qua việc kiên quyết tinh giản bộ máy hành chính cồng kềnh, và cải cách hệ thống tư pháp. Ngoài ra, những cam kết về mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại mà chúng ta đã ký – trong đó có việc đàm phán các hiệp định như CPTPP hay EVFTA – cần tiếp tục được thực hiện, tuy nhiên phải thật khẩn trương, đổi mới triệt để, tránh hiện tượng manh mún, nửa vời.

Chính phủ quá lớn và can thiệp quá nhiều vào nền kinh tế thường không hiệu quả

Có thể nói, chính tự do kinh tế là giải pháp giúp cho cả thế giới giàu lên về hàng hóa và dịch vụ một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể đạt được khi các chính quyền hạn chế can dự và chi phối các hoạt động kinh tế. Phương châm “một chính phủ tốt là chính phủ cai trị ít nhất” nên được ghi nhớ, áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam một cách có hệ thống và càng nhanh càng tốt.

Nguồn butdanh.net

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên