(Cư dân mạng) - Nhiều trung tâm giải trí ở Việt Nam hiện đang chiếu bộ phim thuộc thể loại kinh dị “Giao ước chết” (The Promise) của điện ảnh Thái Lan, lấy cảm hứng từ một tòa nhà hoang nổi tiếng tại Bangkok, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997. Bỏ qua những yếu tố hoang đường và ma quái, bộ phim có nhiều điểm khiến chúng ta phải suy ngẫm, nhất là kinh tế Việt Nam hôm nay đang có nguy cơ đi vào vết xe đổ của Thái Lan 20 năm trước.

Bối cảnh của “Giao ước chết” diễn ra đúng thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đang lan rộng và “càn quét” hàng ngàn hộ gia đình Thái, trong đó có gia đình của hai cô nữ sinh trung học Boum và Ib. Vì phá sản, dự án xây dựng tòa nhà Sathorn Unique Tower, tâm huyết của hai ông bố phải ngừng lại vĩnh viễn. Nhận thấy cuộc sống quá tồi tệ và không còn động lực để tồn tại, hai người bạn thân quyết định gặp nhau và cùng tự sát ngay trên tòa tháp. Tuy nhiên, khi Ib nổ súng vào đầu tự kết liễu cuộc đời, Boum vì quá sợ hãi nên đã bỏ chạy, để lại bạn thân chết trong cô độc. 20 năm sau, Boum giờ đây đã trở thành một doanh nhân bất động sản thành công và có một cô con gái đáng yêu tên Bell sắp tròn 17 tuổi. Một ngày nọ, hai mẹ con tới tòa tháp Sathorn Unique, định khởi động lại dự án nhưng vô tình đánh thức linh hồn giận dữ của Ib, trở về báo thù.

Bối cảnh của “Giao ước chết” diễn ra đúng thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đang lan rộng và “càn quét” hàng ngàn hộ gia đình Thái, trong đó có gia đình của hai cô nữ sinh trung học Boum và Ib. Vì phá sản, dự án xây dựng tòa nhà Sathorn Unique Tower, tâm huyết của hai ông bố phải ngừng lại vĩnh viễn. Nhận thấy cuộc sống quá tồi tệ và không còn động lực để tồn tại, hai người bạn thân quyết định gặp nhau và cùng tự sát ngay trên tòa tháp. Tuy nhiên, khi Ib nổ súng vào đầu tự kết liễu cuộc đời, Boum vì quá sợ hãi nên đã bỏ chạy, để lại bạn thân chết trong cô độc. 20 năm sau, Boum giờ đây đã trở thành một doanh nhân bất động sản thành công và có một cô con gái đáng yêu tên Bell sắp tròn 17 tuổi. Một ngày nọ, hai mẹ con tới tòa tháp Sathorn Unique, định khởi động lại dự án nhưng vô tình đánh thức linh hồn giận dữ của Ib, trở về báo thù.

Thái Lan năm 1997

Trong suốt một thập kỷ, từ 1985 – 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng chóng mặt, bình quân 10% mỗi năm, hứa hẹn trở thành một con hổ mới của châu Á. Sự bùng nổ này có được là do Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác khi đó đã thực hiện chính sách neo chặt giá trị đồng nội tệ vào dollar Mỹ và cho phép tự do lưu chuyển vốn, khiến lãi suất ở các thị trường này trở nên hấp dẫn hơn so với những nước phát triển, và luồng vốn quốc tế ồ ạt đổ vào đây. Ngoài ra, các chính phủ Đông Nam Á khi đó đã ban hành những chính sách mạo hiểm nhằm xúc tiến đầu tư, đồng thời bảo hộ ngầm cho các định chế tài chính, góp phần khiến nhiều công ty tập đoàn vay nợ quá nhiều, nhất là nợ nước ngoài, bất chấp mạo hiểm khi phần lớn là các khoản nợ ngắn hạn không có bảo hiểm rủi ro.

Cuối năm 1996, nghiên cứu Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo, nền kinh tế Thái Lan đang tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cùng thời điểm đó, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả chỉ số chứng khoán lẫn mức vốn hóa thị trường đều sụt giảm. Sang năm 1997, những khối u cuối cùng cũng bộc phát: thị trường bất động sản Thái Lan vỡ, nhiều định chế tài chính ngân hàng phá sản. Những nhà đầu tư khi đó không còn tin vào khả năng giữ tỷ giá hối đoái cố định của Chính phủ. Phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế Thái Lan (và cả các nước châu Á khác), một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn, khiến đồng Baht Thái mất giá không phanh. Sau đó, Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF phải tuyên bố gói cứu trợ hàng tỷ USD cho Thái Lan, đổi lại chính phủ nước này phải chấp nhận những điều kiện (bất lợi) để được giải cứu.

Khủng hoảng tài chính 1997 bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan rộng ra cả châu Á. Những nước bị thiệt hại nặng nề nhất là Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippines và cả Singapore

Khủng hoảng tài chính 1997 bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan rộng ra cả châu Á. Những nước bị thiệt hại nặng nề nhất là Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippines và cả Singapore

Ngày nay, du khách thăm Bangkok khi soi mình xuống dòng sông Chao Phraya sẽ thấy tòa nhà 49 tầng Sathorn Unique phủ đầy rêu mốc và những bức vẽ graffiti. “Tòa tháp ma” giờ đây đã quá xuống cấp vì khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt và có thể sẽ bị phá bỏ. Dự án nhà ở xa xỉ bao gồm 600 căn hộ này chỉ là một trong 300 bất động sản lớn của Bangkok thất bại vì bão khủng hoảng khi đó. Ngày nay, chỉ vài công trình là còn sót lại song cũng đủ để đóng vai trò nhắc nhở về biến động của 2 thập niên trước. Đến tận bây giờ, bóng ma khủng hoảng vẫn không thôi ám ảnh tâm trí người dân Thái Lan. Kinh tế Thái hiện đã hồi phục, song không còn sôi động như thời điểm trước năm 1997, cùng với đó là sự chuyển dịch của luồng đầu tư và phép màu kinh tế sang Trung Quốc, Ấn Độ hay cả Việt Nam.

Tòa tháp ma ở Bangkok chưa bao giờ được hoàn thành

Tòa tháp ma ở Bangkok chưa bao giờ được hoàn thành

Việt Nam năm 2017

Năm 2016, tờ Nikkei Asian Review của Nhật có bài bình luận, rằng nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng ngoạn mục nhờ dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn, tuy nhiên nhiều chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại Việt Nam sẽ lặp lại vết xe đổ trước đây của Thái Lan. Lo lắng ấy không hẳn là không có cơ sở khi kinh tế Việt Nam, bất chấp sự “hào nhoáng” bên ngoài, đang tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Kinh tế Việt Nam đang đi trên con đường rất giống Thái Lan 20 năm trước

Kinh tế Việt Nam đang đi trên con đường rất giống Thái Lan 20 năm trước

Từ giữa những năm 2000, dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng lớn, giúp tăng trường kinh tế hàng năm đạt khoảng 7%. Dẫu vậy, tốc độ này hãy còn kém xa Thái Lan thời trước khủng hoảng. Tăng trưởng trong ngành lắp ráp và may mặc lại đòi hỏi một nguồn cung lớn về nguyên vật liệu, thiết bị mà Việt Nam lại chưa thể sản xuất, qua đó gây nên tình trạng thâm hụt thương mại khi nhập siêu quá lớn. Hiện nay, tình hình có được cải thiện đôi chút, tuy nhiên các nguồn lực và khả năng mà chúng ta có để ứng phó với khủng hoảng (trong trường hợp sẽ xảy ra) là rất mong manh. Chẳng hạn, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang rất nhỏ (45 tỷ USD theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, chỉ đủ cho vài tuần nhập khẩu, trong khi Thái Lan hiện có gần 230 tỷ USD)

Năm 2008, kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phá giá đồng nội tệ vốn đang ở mức 16.000 đồng/USD xuống 22.000 đồng/USD như hiện nay, sau vài lần điều chỉnh. Động thái này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ nhỏ, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến các dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế giảm xuống chỉ còn 5-6% một năm, hiện nay đang có dấu hiệu khởi sắc trở lại, chủ yếu nhờ vào luồng vốn FDI lớn, nhất là từ các công ty Hàn Quốc như Samsung. Tuy nhiên, tăng trưởng hiện tại của Việt Nam, dù tương đối cao song lại thấp hơn mức bình quân của những nền kinh tế đang phát triển khác như Ấn Độ, Lào, Campuchia hay Miễn Điện. Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình tăng trưởng của chúng ta đang quá thiên về chiều rộng, chủ yếu dựa trên tăng đầu tư, khai thác tài nguyên; hiệu quả sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai… ) và năng suất lao động còn thấp; chi phí sản xuất, tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm luôn rất cao và còn có xu hướng gia tăng.

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đang dựa quá nhiều vào khu vực đầu tư nước ngoài (FDI)

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đang dựa quá nhiều vào khu vực đầu tư nước ngoài (FDI)

Một điểm yếu lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam nằm ở mô hình quản trị, đặc biệt trong việc phân bố các nguồn lực. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước mặc dù hoạt động không hiệu quả nhưng vẫn nhận được rất nhiều ưu đãi, sở hữu nhiều nguồn lực lớn về đất đai và vốn, trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân lại quá èo uột, hoạt động cầm chừng và thiếu đi định hướng lâu dài. Ngoài ra, thay vì ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất chế tạo, đặc biệt các mặt hàng có tỷ lệ thâm dụng công nghệ cao, một lượng vốn đang được bơm vào và nằm chết ở thị trường bất động sản. Theo lý thuyết, để khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, người dân cần một lượng thu nhập từ ngoài sản xuất, sở hữu và chuyển nhượng từ các khu vực khác (có thể là tham nhũng, đầu cơ, vay mượn…) để bù đắp cho các khoản thiếu hụt. Thế nhưng, mặc dù người dân Việt Nam đang làm ra không đủ tiêu, nhưng tiền vẫn cứ chảy vào lĩnh vực bất động sản, điều này tất yếu sẽ gây nên rủi ro nợ xấu và những bất ổn xã hội, trong đó có đạo đức. Bên cạnh đó, bất động sản ở Việt Nam chủ yếu hình thành dựa trên mối quan hệ gắn với lợi ích nhóm, kém minh bạch, chênh lệch giữa giá mua và bán luôn ở mức rất cao. Do đó, luồng tiền đổ vào bất động sản không thể giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững. Nguy cơ bong bóng và đổ vỡ là hoàn toàn có thực.

Quá nhiều nguồn lực của nền kinh tế đang được đổ vào bất động sản

Quá nhiều nguồn lực của nền kinh tế đang được đổ vào bất động sản

Vắng như bên trong các trung tâm thương mại sang trọng ở Việt Nam

Vắng như bên trong các trung tâm thương mại sang trọng ở Việt Nam

Thay lời kết

Năm 2015, Phó giám đốc Trung tâm thương mại Thùy Dương Plaza (Hải Phòng) viết tâm thư rồi nhảy lầu tự tử, nghi vấn là do nợ nần

Năm 2015, Phó giám đốc Trung tâm thương mại Thùy Dương Plaza (Hải Phòng) viết tâm thư rồi nhảy lầu tự tử, nghi vấn là do nợ nần

Nhìn nhận lại sự phát triển của Việt Nam trong những năm qua có thể thấy chúng ta đang đi đúng vào con đường mà những láng giềng Đông Nam Á như Thái Lan hay Malaysia đã đi qua, nhưng với tốc độ còn chậm chạp hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng lại đang gặp phải chính những vấn đề nghiêm trọng không kém gì các nước đã từng bị tàn phá bởi cuộc khủng hoảng năm 1997. Trong điều kiện các nguồn lực của chúng ta còn rất mỏng cũng như không hề có kinh nghiệm đối phó, nếu Chính phủ không có những biện pháp quyết liệt ngay từ bây giờ, khủng hoảng trước sau gì cũng sẽ xảy đến.

CTV Hải Đăng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên