(Kinh tế) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội về một số giải pháp thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2013, 2014.

 

Trong đó, quy định thu ngân sách Nhà nước đối với cổ tức được chia năm 2013 và năm 2014 cho phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần có vốn nhà nước do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu.

Cụ thể, cổ tức được chia cho phần vốn Nhà nước là số cổ tức được chia theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng Quản trị cho phần vốn Nhà nước phát sinh trong năm 2013 và năm 2014 (bao gồm cả phần cổ tức của các năm trước được chia trong năm và số cổ tức tạm chia theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng Quản trị).

Ảnh minh họa

Đại diện phần vốn Nhà nước tại công ty cổ phần có trách nhiệm đôn đốc công ty nộp khoản cổ tức được chia cho phần vốn Nhà nước về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp đặt tại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ban hành Nghị quyết của Hội đồng quản trị.

Đối với khoản cổ tức được chia đã nộp về Quỹ đặt tại SCIC từ ngày 1/1/2013 đến ngày 10/12/2013, SCIC có trách nhiệm nộp vào ngân sách Nhà nước trước ngày 15/12/2013.

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước có trách nhiệm rà soát, phối hợp với các cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần đôn đốc công ty nộp đầy đủ, kịp thời khoản cổ tức được chia về Quỹ để chuyển nộp vào ngân sách Nhà nước chậm nhất không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày thu tiền về Quỹ. Số thu cổ tức nộp ngân sách Nhà nước được điều tiết 100% cho ngân sách Trung ương.

Thu ngân sách lợi nhuận còn lại năm 2013 và 2014 của các tập đoàn, tổng công ty

Về thu ngân sách Nhà nước đối với lợi nhuận còn lại năm 2013 và năm 2014 sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật của các tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, các tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: Các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty Nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ-công ty con (bao gồm cả SCIC).

Lợi nhuận còn lại nộp ngân sách Nhà nước năm 2013 và năm 2014 là phần lợi nhuận sau khi trừ khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế, trích lập các quỹ theo quy định tại Nghị định số 71/2013/NĐ-CP về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các quỹ đặc thù khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Riêng năm 2013 được trừ cả khoản chi từ lợi nhuận sau thuế theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (nếu có).

Đối với SCIC ngoài việc thực hiện thu, nộp vào ngân sách khoản lợi nhuận còn lại có trách nhiệm nộp vào ngân sách khoản lợi nhuận còn lại thu về Quỹ phát sinh trong năm 2013 và năm 2014 của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn Nhà nước do bộ, ngành, địa phương là đại diện chủ sở hữu.

Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 và 2014 đối với hộ, cá nhân và tổ chức

Nghị định cũng quy định việc miễn thuế khoán (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân) và thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 và 2014 đối với hộ, cá nhân và tổ chức.

Cụ thể, miễn thuế khoán (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân) năm 2013 và 2014 đối với hộ, cá nhân kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân, người lao động, sinh viên, học sinh; hộ, cá nhân chăm sóc trông giữ trẻ; hộ, cá nhân cung ứng suất ăn ca cho công nhân.

Mức thuế khoán thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân được xác định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân.

Miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp phát sinh năm 2013 và 2014 đối với hoạt động cung ứng suất ăn ca cho công nhân (không bao gồm hoạt động cung ứng suất ăn cho doanh nghiệp vận tải, hàng không, hoạt động kinh doanh khác) của doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh thì số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn chỉ tính trên thu nhập từ hoạt động cung ứng suất ăn ca. Trường hợp không xác định được thu nhập của hoạt động được miễn thuế thì thu nhập để tính số thuế được miễn thuế được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa doanh thu của hoạt động cung ứng suất ăn ca với tổng doanh thu của doanh nghiệp trong năm miễn thuế.

Số thuế giá trị gia tăng được miễn được xác định căn cứ theo tỷ lệ giữa doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng của hoạt động cung ứng suất ăn ca của từng tháng trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng trong tháng.

Hoàng Diên

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên