(Thời sự) - Dọn nhà tránh hàng xóm đã khó còn dọn nước để tránh láng giềng là điều không thể. Đối với Trung Quốc, ta chỉ ngang với một tỉnh của họ, nên không thể dùng một trận mà đòi lại được biển đảo. Ta đã nhỏ lại ứng xử theo kiểu trẻ con, xỏ xiên thì sẽ được nhận lại thái độ gì, và ta cũng sẽ làm được gì họ?

Nước ta năm 1887, vua thì bị bắt đi đầy, tên nước đã bị xóa, tức đã mất hoàn toàn vào tay Pháp, thành bộ phận của Liên bang Đông Dương. Không ai muốn một tấc đất mà hàng ngàn năm ông cha ta đã đổ máu gìn giữ được, nhưng sức ta có hạn, không phải mọi thứ đều như ý.

Năm 1956 khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa kể cả đảo Tri tôn xa lơ xa lắc.

Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta chỉ đóng giữ được ở một số đảo nổi. Không chỉ Trung Quốc, năm 1971, Philippines đã lấn chiếm 5 đảo phía Đông Trường Sa, đến 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía Bắc. Với Malaysia, cho đến năm 1979, họ đã chiếm 7 đảo phía Nam Trường Sa.

Đặc biệt năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã đánh chiếm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa bắt đầu là bãi đá ngầm Chữ thập mà nay chúng đã cải tạo thành một pháo đài.

Ngư dân khóc ngất trên biển Đông

Ngư dân khóc ngất trên biển Đông

Đến hôm nay, Trung Quốc chưa gây chiến trên Biển Đông là vì phe hiếu chiến chưa nắm quyền. Nhưng nếu là những trận đánh trên biển, sự thiệt hại của Trung Quốc dù lớn cũng sẽ là nhỏ so với thực lực tổng thể của họ. Trung Quốc sẽ có thể mất thật nhiều lính, mất nhiều tỷ đô la, một phần lớn vũ khí sẽ bị hư hại, nhiều tàu sẽ chìm, song với tiềm lực khổng lồ họ rất sẵn sàng bổ sung nhanh chóng và duy trì cuộc chiến lâu dài.

Trong khi phía Việt Nam có thể tiếp nối truyền thống lấy ít địch nhiều, Việt Nam sẽ gây thiệt hại nặng cho địch về vũ khí trang bị, con người, nhưng chắc chắn chúng ta cũng sẽ có thiệt hại và buộc phải kéo dài và xé nhỏ cuộc chiến. Và đáng lo nhất là sau 1 cuộc chiến hao tổn sức người sức của và hy sinh mất mát ta vẫn chưa thể có chiến thắng triệt để cuối cùng dù kéo dài đến 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa..

Ai không yêu nước, không muốn đánh cho chúng một trận tơi bời để chừa cái thói “hung hăng, ngang tàng” nhưng nói thì rất dễ, khi bắt tay trực tiếp vào làm mới thấy biết bao nhiêu chuyện phức tạp. Khi có chiến tranh, Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ ảnh hưởng tới vấn đề chủ quyền, suy giảm năng lực phòng thủ, tạo ra thêm nguy cơ mất chủ quyền lớn hơn, bao nhiêu người hy sinh, và sẽ còn nhiều mất mát khác, kinh tế bị ảnh hưởng xấu, đời sống người dân nhất là ngư dân sẽ bị ảnh hưởng to lớn hơn nữa. Rồi “thương hiệu” một Việt Nam ổn định, luôn tôn trọng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế sẽ đi về đâu? Bao nhiêu nỗ lực ngoại giao từ đông sang tây, từ khu vực đến khắp thế giới để đạt được sự tin tưởng, sự ủng hộ của bạn bè thế giới chỉ đáng bằng một cơn nóng giận, “đánh nó cho thỏa cái tôi” sao?

Ảnh vệ tinh “tố” Trung Quốc quân sự hóa phi pháp ở biển Đông

Ảnh vệ tinh “tố” Trung Quốc quân sự hóa phi pháp ở biển Đông

Người làm chính trị luôn lo đến cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc. Vì những lẽ lợi – hại đó, vẫn sẽ có những hạn chế phần nào trong báo chí và dư luận để phục vụ cho sách lược đối ngoại chung đối với Trung Quốc, giữ cho tất cả trong vòng kiểm soát, không leo thang căng thẳng, dần đưa tới mâu thuẫn, từng bước đưa đến xung đột quân sự và chiến tranh quy mô. Đồng thời không để thế lực thứ ba nào lợi dụng tình hình căng thẳng giữa hai bên để trục lợi.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm, và cái lợi tổng thể của cái chung, của dân tộc, đất nước. Và chủ quyền và sự hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm họ đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, cái lợi ích chung đó. Họ đặt tình cảm vào cái chung, cái lớn, toàn dân, toàn quốc, nặng hơn cái tình cảm cá nhân với 1 người hay 1 nhóm, cái riêng tư, cục bộ. Đặt nặng cái lâu dài hơn cái nhất thời.

Họ cũng căm tức nhưng họ có trách nhiệm gánh vác to lớn, họ không có quyền để cảm xúc, cảm tính điều khiển hành động, không được hành động cho đã cái nhất thời bất chấp tất cả, rồi sau đó thế nào mặc kệ, không chịu trách nhiệm. Nếu vậy thì đó mới là một chính phủ vô trách nhiệm. Chiến tranh đổ máu, mất thêm chủ quyền lãnh hải lãnh thổ, thì sao đây?

Bài học từ việc đạp phá ở Bình Dương vẫn còn đó

Bài học từ việc đạp phá ở Bình Dương vẫn còn đó

Tham vọng bành trướng bá quyền vốn là “đặc sản” của người Trung Quốc và cũng là bản tính chung của các đế quốc. Nhưng sau bao cuộc chiến đẫm máu đã dẫn tới xu hướng của thời đại: đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương. Ai cũng biết ông cha ta vừa thắng giặc phương Bắc xong vẫn sang triều cống và xin phong Vương. Bây giờ không còn vậy nhưng vẫn phải hiểu, chiến lược ngoại giao phải phụ thuộc vào thế và lực của ta, không phải muốn sao cũng được. Sai lầm trong đối ngoại là sẽ dẫn tới thảm họa, bất kể nước nào.

Vấn đề biển đảo vẫn còn nguyên đó. Ta tốt nhất vẫn là “vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Cuộc đấu tranh ngoại giao phải luôn kiên trì, không ngừng nghỉ, phải kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển. Còn không, “im lặng nghĩa là đồng ý”, nước ta sẽ vĩnh viễn mất biển!

Nhưng cũng phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Lực ta có hạn mà lại đòi mọi cái theo ý mình sẽ là ảo tưởng. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ ta không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Không ai muốn Trung Quốc bành trướng thành siêu cường, rồi có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.

Lực lượng Hải quân nhân dân và Không quân nhân dân Việt Nam hiện nay đang được hiện đại hóa, có tính răn đe cao, làm cho Trung Quốc chùn bước chứ không làm cho chúng ngừng ý định bành trướng xuống phương Nam. Vì những lẽ đó, mới có xu hướng lấy đại cuộc làm đầu, nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực.

Theo Facebook

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên