(Cư dân mạng) - Trong lúc những tranh luận về việc quân đội làm kinh tế ở Việt Nam còn chưa dứt, trên Shephard Media – một tổ chức truyền thông uy tín và độc lập tại Anh chuyên đưa ra những góc nhìn phân tích về chiến lược an ninh quốc phòng của các quốc gia trên thế giới, có bài “Quân đội Việt Nam cần cải cách” (Reforms are needed for the Vietnam’s military) của tác giả Wendell Minnick, trong đó nhấn mạnh: “Việt Nam rất cần hiện đại hóa và tái cấu trúc quân đội một cách nghiêm túc nếu muốn đứng vững trước nguy cơ đang ngày càng gia tăng của việc Trung Quốc sẽ khống chế biển Đông”

Trước thách thức từ phía Trung Quốc, Việt Nam đang không ngừng hiện đại hóa quân đội

Trước thách thức từ phía Trung Quốc, Việt Nam đang không ngừng hiện đại hóa quân đội

Theo Ninnick, kể từ sau năm 1975, trên thực tế quân đội Việt Nam luôn không ngừng được hiện đại hóa, bất chấp những thời điểm hết sức khó khăn đối với nền kinh tế. Trong vòng 10 năm trở lại đây, Việt Nam luôn đặt sự ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng nguồn lực cho quân đội, định nghĩa lại những điểm mấu chốt của các mối quan hệ chiến lược, nâng cao hiệu quả của hành vi ứng xử theo đòi hỏi thực tiễn đối với từng quân chủng và xác lập những kế hoạch mua bán, giáo dục đào tạo, cấu trúc chức năng và nhiệm vụ của những doanh nghiệp quốc phòng. Tác giả đã dẫn trường hợp độc đáo của Viettel, một doanh nghiệp quân đội, đã vượt qua rất nhiều trở ngại, trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn nhất Việt Nam và có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu. (Một số chuyên gia cho rằng Viettel thậm chí sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa nếu cổ phần hóa và quân đội thoái vốn hoàn toàn … mới đây báo cáo kết quả kinh doanh của Viettel Global, đơn vị chuyên thực hiện những vụ đầu tư quốc tế của Viettel cho thấy đơn vị này lỗ tới hơn 20.000 tỷ VNĐ)

viettel

Viettel Global, đơn vị kinh doanh quốc tế, thực hiện các vụ đầu tư ra nước ngoài của Viettel

Tuy nhiên, Ninnick đề xuất, bên cạnh những thành tựu, Việt Nam nên thực hiện những cải tổ mang tính đột phá, đặc biệt ở “cấu trúc lãnh đạo”  quốc phòng, vốn bị đánh giá là chậm, hay đúng hơn hoàn toàn không có nhiều thay đổi kể từ sau chiến tranh. Theo Zachary Abuza, chuyên gia về Đông Nam Á tại trường Quốc gia Chiến tranh (National War College, Washington DC), trước tình hình phát triển mới và nhu cầu hiện đại hóa nhanh chóng của quân đội Việt Nam, việc chỉ định những chỉ huy, tư lệnh cao cấp nhất nên dựa trên năng lực lãnh đạo và kinh nghiệm tác chiến thực tiễn hơn là trình độ lý luận và phẩm chất chính trị.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Ngô Xuân Lịch nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Ngô Xuân Lịch nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng

Khâu huấn luyện và đào tạo cũng nên được ưu tiên nhiều hơn, từ cơ sở cho tới các cấp cao hơn, bao gồm cả việc gửi những sĩ quan chỉ huy trung và cao cấp tới tu nghiệp, trao đổi tại những quốc gia mạnh, có nền quốc phòng tiên tiến, đặc biệt trong mảng phối hợp tác chiến – theo đề xuất của giáo sư Carl Thayer.

Sĩ quan quân đội Việt Nam theo học tại Học viện Quốc phòng Australia

Sĩ quan quân đội Việt Nam theo học tại Học viện Quốc phòng Australia

Abuza cũng nhận định, mặc dù lục quân Việt Nam được huấn luyện rất tốt, song những tai nạn máy bay trong vòng 2 năm trở lại đây cho thấy vấn đề trong khâu bảo dưỡng, gia cố và thực hiện đủ số giờ bay đối với không quân. Vấn đề tương tự, cũng rất dễ gặp phải ở lực lượng hải quân, mấy năm gần đây vốn được đầu tư mua sắm nhiều hơn bất cứ quân chủng nào khác.

GS Thayer đề xuất thêm, Việt Nam nên chủ động khởi xướng những chương trình diễn tập song và đa phương, ở quy mô sâu và rộng hơn với các đối tác quân sự chiến lược (như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và ASEAN) để kiểm tra, đánh giá năng lực tác chiến của Việt Nam, đặc biệt với không quân và hải quân.

Thêm vào đó, chính phủ Việt Nam cũng rất cần xây dựng một chiến lược quốc phòng và an ninh quốc gia toàn diện để định hướng sự phát triển học thuyết của các quân chủng, chiến lược, chiến thuật và năng lực tương kết (tương trợ và kết hợp).

Một trong những vấn đề đáng quan ngại là Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung và những hợp đồng mua bán vũ khí với Nga – đối tác quân sự truyền thống. Tuy nhiên, chi phí cho việc bảo dưỡng và nâng cấp những khí tài của Nga thường khá tốn kém do thiếu hụt nguồn cung, rất không có lợi cho ngân sách phát triển quốc phòng của Việt Nam trong dài hạn.

Hiện Nga vẫn là đối tác cung cấp vũ khí lớn nhất cho Việt Nam. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro

Hiện Nga vẫn là đối tác cung cấp vũ khí lớn nhất cho Việt Nam. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro

Mới đây, trang Đất Việt có đăng tin cho biết Nga đang tìm kiếm đối tác mua nốt 6 chiếc tiêm kích Su-30K còn lại trong lô 12 máy bay tiêm kích Su-30K qua sử dụng được Ấn Độ trả lại, và đã bán được một nửa cho Angola. Quan điểm của bài viết cho rằng nếu Nga vẫn giữ giá bán 15 triệu USD cho một máy bay hay thậm chí rẻ hơn thì việc Việt Nam cân nhắc mua lại cũng không phải ý tưởng tồi. Phương án này, nếu được thực hiện, thì sẽ tương đối lãng phí, nhất là trong điều kiện ngân sách quốc phòng của Việt Nam không quá dư thừa.

TS Collin Koh, nghiên cứu viên tới từ trường nghiên cứu S. Rajaratnam (Đại học Quốc gia Singapore) nêu ra 2 mối quan ngại:

– Thứ nhất, Nga bán vũ khí cho cả Việt Nam và Trung Quốc (với số lượng vượt trội). Khủng hoảng chính trị tại Ukraine và lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây khiến Nga ngày càng xích lại gần Trung Quốc hơn trong vấn đề hợp tác công nghệ quân sự. Điều này rất không có lợi cho Việt Nam. Trước tình thế đó, Việt Nam rất cần mau chóng đa dạng hóa nguồn cung cấp từ những đối tác không phải Nga (hay Belarus vốn thân Nga)

– Thứ hai, qua một số thương vụ, Nga tỏ ra là một “lái súng thất thường”. Tiêu biểu là thương vụ Nga hứa hẹn sẽ chuyển giao công nghệ đóng tàu nếu Việt Nam đặt mua ít nhất 6 khu trục hạm lớp Gepard. Tuy nhiên, Nga lại chậm tiến độ trong việc đóng và bàn giao chiến hạm (do nguồn cung động cơ từ Ukraine bị gián đoạn, phải thương lượng với Đức), ảnh hưởng không nhỏ tới chiến lược phòng thủ của Việt Nam. Để khắc phục yếu điểm chết người này, Việt Nam nên tìm kiếm sự đa dạng hóa và thay thế từ những đối tác khác, như Mỹ, Nhật Bản hay liên minh châu Âu, đồng thời mở rộng năng lực của ngành đóng tàu trong nước, vừa để tự chủ, vừa tiết kiệm ngân sách. Việc Mỹ gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương đang mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam để có thể sở hữu những công nghệ tiên tiến bậc nhất trên phi cơ săn ngầm P3C-Orion hay vận tải cơ C-295 v.v. Một trong những ưu điểm lớn nhất của những vũ khí theo hệ NATO, đó là chúng rất dồi dào nguồn cung cấp phụ tùng, linh kiện thay thế, cũng như thường xuyên được các nhà thầu mời chào những gói nâng cấp mở rộng và chuyển giao công nghệ, giấy phép sản xuất. Một số đối tác của Mỹ như Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Đài Loan và mới đây nhất là Ấn Độ đã tự sản xuất được chiến đấu cơ thế hệ 4 nhờ vào sự giúp đỡ công nghệ từ Mỹ, đặc biệt là nguồn cung động cơ. Trung Quốc vốn đã tự sản xuất được máy bay chiến đấu J-10 nhưng nhờ sao chép công nghệ trên Su-27 của Nga.

Tàu Gepard Nga đóng và bàn giao công nghệ cho Việt Nam bị chậm tiến độ, một nguyên nhân do khủng hoảng Ukraine (2014)

Tàu Gepard Nga đóng và bàn giao công nghệ cho Việt Nam bị chậm tiến độ, một nguyên nhân do khủng hoảng Ukraine (2014)

P3C-Orion của Lockheed Martin (Mỹ), nếu Việt Nam có thể sở hữu thì sẽ làm gia tăng đáng kể năng lực chống ngầm của hải quân

P3C-Orion của Lockheed Martin (Mỹ), nếu Việt Nam có thể sở hữu thì sẽ làm gia tăng đáng kể năng lực chống ngầm của hải quân

Chiến đấu cơ nội địa Kinh Quốc (thuộc thế hệ 4) do Đài Loan tự phát triển, được General Dynamics (Mỹ) cung cấp động cơ, có thiết kế khá giống với F-16

Chiến đấu cơ nội địa Kinh Quốc (thuộc thế hệ 4) do Đài Loan tự phát triển, được General Dynamics (Mỹ) cung cấp động cơ, có thiết kế khá giống với F-16

Theo Abuza, nếu thương thảo được giấy phép nhượng quyền và chuyển giao công nghệ, Việt Nam sẽ làm tốt việc tự sản xuất hơn bất kỳ nước nào ở Đông Nam Á, và như thế giá thành sẽ rẻ hơn nhiều. Một điểm yếu khác cũng nên được khắc phục đó là trong lĩnh vực chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tình báo, theo dõi và trinh sát (C4ISR). Theo GS Carl Thayer, Việt Nam nên cách mạng hóa C4ISR bằng cách bảo đảm cho khả năng phối hợp tác chiến giữa không quân và hải quân bằng các công nghệ được chuyển giao, trên cùng dây chuyền sản xuất và một nền kỹ nghệ quốc phòng vững mạnh.

Mới đây, tại một buổi tọa đàm về ngành Công nghệ Thông tin của Việt Nam trước làn sóng của Cách mạng 4.0 đang đến rất gần, Giáo sư Tiến sỹ khoa học Trung tướng Phạm Thế Long, nguyên giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự Việt Nam nhận định: Những công nghệ vũ khí mà Việt Nam đang sử dụng thuộc hàng tiên tiến trên thế giới, song chúng ta không khỏi lo lắng vì có rất ít sản phẩm do chính chúng ta tự nghiên cứu phát triển, có những công nghệ mà chất xám và nhân lực Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được, song lại không có quyền tiếp cận và không được giao cho để thực hiện.

Vấn đề quan trọng nhất với Việt Nam vào lúc này, theo Abuza là Việt Nam nên theo đuổi một học thuyết quân sự đúng đắn, đặc biệt với những quân chủng không quân và hải quân, và chúng ta đã chậm trễ 2 năm trong việc công bố sách trắng (White Papers) Quốc phòng.

Chiến tranh nhân dân, điều làm nên hào quang của Quân đội Việt Nam trong quá khứ

Chiến tranh nhân dân, điều làm nên hào quang của Quân đội Việt Nam trong quá khứ

TS. Koh cũng cho rằng, không giống với thời kì chiến tranh du kích mà lực lượng nòng cốt là nông dân, bối cảnh thế giới hôm nay và trong tương lai sẽ rất khác, những cuộc xung đột, nếu có, sẽ chỉ diễn ra rất chóng vánh và yếu tố quyết định thắng lợi chính là sự vượt trội về công nghệ… điều này khiến cho những học thuyết và chiến thuật cũ đã trở nên quá lỗi thời. Việt Nam nên thay đổi, điều chỉnh từ cơ chế tập trung sang cơ chế tản quyền, đặc biệt tin tưởng và trao quyền nhiều hơn cho thế hệ lãnh đạo, chỉ huy trẻ.

Ông Tập Cận Bình đang mạnh tay cải tổ quân đội Trung Quốc

Ông Tập Cận Bình đang mạnh tay cải tổ quân đội Trung Quốc

Hầu hết các chuyên gia chiến lược quốc tế đều đồng ý rằng Trung Quốc sẽ là đối thủ lớn nhất, đe dọa an ninh và lợi ích trực tiếp của Việt Nam. Hiện nay, ông Tập Cận Bình đang thực hiện những bước đi rất mạnh mẽ để cải tổ quân đội Trung Quốc, đi theo mô hình chuyên nghiệp hóa và phương thức quản lý rất giống phương Tây – đặc biệt những giá trị Mỹ, mục tiêu mà Trung Quốc xác định để vươn tới. Trong những phương án cải tổ của quân đội Trung Quốc, có việc cắt giảm quân số thường trực, cấm quân đội làm kinh tế, hạn chế số lượng tướng lĩnh, đầu tư mạnh cho không quân và hải quân… tất cả hòng kiện toàn, củng cố và nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, với tham vọng trở thành siêu cường quốc thống trị khu vực châu Á. Đối thủ đang có những bước tiến rất nhanh chóng, không có lý do nào Việt Nam lại có thể bình chân như vại và phát biểu lạc quan rằng mọi thứ vẫn ổn. Nếu không thay đổi, chúng ta sẽ đánh mất rất nhiều lợi thế trong việc đối phó với tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên biển Đông và bảo vệ trọn vẹn chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc.

CTV Hải Đăng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@quochoi.org
Thích và chia sẻ bài này trên